Dấu hiệu khẳng định đẳng cấp

Dấu hiệu khẳng định đẳng cấp 1 thời của ô dù


Ở phía bắc Lưỡng Hà dưới triều đại Assyria của người Akkad , ngoài vua ra thì không có ai được phép sử dụng ô. Hoàng đế của Trung Quốc mỗi khi xuất hiện có đến mấy lớp ô che chắn với lụa và rèm tua. Quốc vương Thái Lan cũng cầu kỳ không kém với bảy tầng ô mô phỏng ngôi đền thiêng trên núi Meru.

Sự ra đời của Con đường Tơ lụa và hệ thống thương mại đã mở đường cho ô dù Trung Quốc làm bằng tre và lụa, vẽ rồng, hoa, động vật khiến người châu Âu ngạc nhiên, vì trước nay, với họ, chỉ da và dầu là hai chất liệu không thấm nước và được sử dụng làm ô. 



Người Trung Quốc và Nhật Bản thời xa xưa không chỉ sử dụng ô với mục đích che mưa, che nắng mà còn là một phụ kiện thời trang thể hiện sự thanh lịch.

Ô dù cầm tay được sử dụng trong các buổi lễ của Giáo hoàng. Những chiếc ô màu trắng và nâu đầu tiên đã được trao cho Giáo hoàng Sylvester I (đứng đầu Giáo hội Công giáo giữa 314-335), Constantine Đại đế (272-337). Thế kỷ 15 đến, các nhà thờ, giới quý tộc và giáo sĩ bắt đầu sử dụng màu sắc ô như một biểu hiện phân biệt tầng lớp.



Nhiều cây bút nổi tiếng như John Evelyn (1620-1706), Thomas Cory (1577-1617), Tiểu thuyết gia Daniel Defoe (1660-1731) Thương gia người Pháp Jean Baptiste Tavernier (1605-1689), Thuyền trưởng James Cook (1728-1779) bắt đầu viết những trang văn ca ngợi chiếc ô của người Trung Quốc, người Italia, Ấn Độ, Ba Tư, Brazil.

Thế kỷ 16 hầu hết ở các nước châu âu chế độ Thanh giáo xem ô là một phụ kiện phù phiếm, Catherine xứ Braganza, xuất xứ từ Bồ Đào Nha, vợ của vua Charles II (1660-1685) được xem là một phụ nữ nổi tiếng với chiếc ô cầm tay. Và những câu chuyện mê tín xung quanh sự may mắn của chiếc ô cũng từ đó được thêu dệt



Jonas Hanway (1712-1786) là người đàn ông Anh đầu tiên xuất hiện trên đường phố với chiếc ô trên tay và bị coi là một quái vật lố bịch nhưng ông không hề để tâm và vẫn mang ô cho đến khi lìa đời